VẬN KHÍ CỦA HÀ NỘI

Thành Hà Nội có một địa thế thiên nhiên vô cùng đẹp đẽ, có đủ cả tay Long, tay Hổ, nội ngoại Minh đường, hình thành nên địa thế vô cùng quý báu tồn hữu thiên thu. Bên tả tay Long là dãy Tam Đảo bao bọc, bắt đầu từ ô cửa Tam Phụ (sau đổi là Yên Phụ) chạy tới dãy núi Yên Tử, Đông Triều và Hương Hải (tức là Hòn Gai bây giờ). Bên hữu tay Hổ là ngọn Ba Vì, bắt đầu từ chùa Bát Mẫu chạy vòng tới dãy núi Ninh Bình, Thanh Hoá và đến cửa bể Thần Phù. Tay Long dài, tay Hổ ngắn hơn cùng ôm bọc lấy Thành nội vào cách “Long bão Hổ” chủ Quý. Thẳng chính Nam, hướng thủ có Minh đường là hồ Bẩy Mẫu, đầm Sen, cửa ô Kim – Liên đi suốt tới hồ Chùa Bầu Hà Nam mới là hết địa thế của Minh đường. Để đảm bảo về cấu trúc địa lý phong thuỷ các bậc đạo nhân khai sơn, lập quốc xưa còn tạo ra hai ô cửa là Ô Chợ Dừa và Ô Đống Mác thuộc nội Minh đường tạo vòng xoay chuyển khí.

Thành Hà Nội được xây dựng vào thế kỷ XI (1010) với một cấu trúc địa lý rất độc dáo. Thành nội được bố trí nằm ở chính giữa kinh đô Thăng Long, có tường bao quanh tượng trưng cho Thái Cực. Hai nhánh sông Tô Lịch hai bên. Bên hữu có hồ Lãng Bạc là sông Nhị hà tượng trưng cho mặt đều nhau là Tứ tượng, thêm vào bốn kiến trúc cổng thành (Cửa Bắc, Nam, Đông, Tây) thành Bát quái. Tất cả mọi đường đều từ thành nội toả ra là biến hoá vô cùng vậy.

Nội cung cũng được sắp đặt theo đúng kiến trúc của Bát quái (tám hướng) Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi hướng có một ý nghĩa và ở mỗi hướng lại có một sự xây dựng theo ý nghĩa ấy:

  • Cung 乾☰Kiền, Tây Bắc: Kiền dĩ quân chi (Kiền chủ Giảng Vũ  Đường (Giảng Võ ) có chùa Trấn Vũ, có đền Trấn Bắc (đền Quan Thánh), có miếu Thành Hoàng, có làng Hữu Tiệp (có tin thắng trận thì báo về).
  • Cung巽☴Tốn, Đông Nam: Tốn dĩ thuận chi, chủ vào việc thuận hảo, phải mềm dẻo, khéo léo thì có Văn Miếu, Trường Thi, Quốc Tử Giám, làng Văn Chương, chùa Long Hoa.
  • Cung坤☷Khôn, Tây Nam: Khôn dĩ tái chi, chủ lấy sự chịu đựng, kiên nhẫn để thủ thắng thì có làng Thịnh Hào.
  • Cung艮☶Cấn, Đông Bắc: Cấn dĩ chỉ chi, là việc ngưng thì phải ngưng lại ngay, chớ tham, thì có làng Nhật Tân, Quảng Bá.
  • Cung坎☵khảm, chính 北 Bắc: Khảm hãm chỉ chi, chủ dùng mưu mẹo để chiến thắng thì có não thuỷ Tây Hồ.
  • Cung兌☱Đoài, chính西Tây: Đoài dĩ duyệt chi, lấy nhu mà chế cương, lấy mềm dẻo mà thuyết phục tin theo, thì có chùa Nhất Trụ (chùa Một Cột).
  • Cung震☳Chấn, chính東Đông: Chấn dĩ cổ chi, lo việc cổ động, thì có chùa Thạch Cổ (cái trống bằng đá).
  • Cung离☲, chính南Nam: là hướng thủ, có một con đường chạy thẳng tắp bắt đầu từ Ô Kim Liên nhằm thẳng hướng về phương Nam (đó chính là đường Lê Duẩn ngày nay), nếu kẻ một đường thẳng dọc theo tâm của con đường ấy qua Ô Kim Liên thì đường thẳng này chiếu rất đúng vào chính tâm Thành nội (chính cung điện) và nếu kéo dài ra phía sau Thành nội, sau trường nuôi voi ngựa tới Thành ngoại, gặp con đê Yên Phụ thì trung tâm vòng Thái cực ở trên đường thẳng ấy. Trong khoa địa lý học, những địa lý gia tầm thường vẫn cho rằng phải kiêng tránh con đường đâm xộc thẳng vào (xuyên tâm), nhưng họ không biết rằng vấn đề ở đây là Ngũ khí. Nếu suy, thoái, tử, sát khí thì một con đường đâm xộc thẳng tới sẽ rơi vào cách “Tiến lộ xuyên tâm” (mũi tên xuyên tim) tối hung. Nhưng nếu là sinh, vượng khí thì một con đường đâm xộc thẳng tới sẽ là cách “Lai lộ tàng cát khí” (con đường đưa cát khí lại) rất tốt đẹp. Một đằng là mũi tên bắn tới, một đằng là mũi tên bắn đi, khác xa nhau một trời một vực vậy.

Thành Hà Nội toạ Quý, hướng Đinh. Nếu xét cụ thể theo từng trung vận 20 năm thì:

  • Trung vận 1 (kể từ năm 1864 – 1884): Nhất bạch trực vận, hướng thủ Ly ra Ngũ hoàng là Xung quan thoái khí. Vận nước bắt đầu đi xuống. Đây là những thập niên cuối cùng của triều đại Tự Đức (Tự Đức là một ông vua rất thông minh và có tài văn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, là một trong những người uyên bác về Nho học thời đó, nhưng lại là người có thể chất ốm yếu, nên thiếu tính quyết đoán, thuộc trường phái bảo thủ do đó thường áp dụng chính sách “bế quan toả cảng” khiến cho đất nước chậm phát triển). Và cũng cuối vận này quân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta (1863).
  • Trung vận 2 (kể từ năm 1884 – 1904): Nhị hắc trực vận, hướng thủ Ly ra Lục bạch. Trung vận 3 (kể từ năm 1904 – 1924): Tam bích trực vận, hướng thủ Ly ra Thất xích . Đều là hoả khắc kim thành Tử khí, tối hung. Nên trong hai vận này nước ta nằm trong vòng nô lệ của thực dân Pháp.
  • Trung vận 4 (Kể từ năm 1924 – 1944): Tứ lục trực vận, hướng thủ Ly ra bát bạch. Là hoả sinh thổ thành Thoái khí. Nhân dân ta lại chịu hai ách thống trị của thực dân Pháp và Phát xít Nhật, khiến cho cuộc sống của dân ta đến chỗ cùng cực.
  • Trung vận 5 (kể từ năm 1944 – 1964): Ngũ hoàng trực vận, hướng thủ Ly ra Cửu tử. Là đồng hoả, Vượng khí đại, vì vậy năm 1945 ta cướp chính quyền. Năm 1946 tổng tuyển cử toàn quốc thống nhất. Miền Bắc đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế những năm 1960 – 1961 – 1962 phát triển mạnh.
  • Trung vận 6 (kể từ năm 1964 – 1984): Lục bạch trực vận, hướng thủ Ly ra Nhất bạch. Là thuỷ khắc hoả thành Sát khí tối hung. Đây là những năm giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, rồi những năm 70, 80 cơ chế bao cấp, giá lương tiền đã làm kiệt quệ nền kinh tế đất nước.
  • Trung vận 7 (kể từ năm 1984 – 2004): Thất xích trực vận, hướng thủ Ly ra Nhị hắc. Là hoả sinh thổ thành Thoái khí. Đây là những năm ta bắt đầu chuyển nền kinh tế từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, những bước đi chập chững trong quá trình quản lý đất nước theo cơ chế mới.
  • Trung vận 8 (kể từ năm 2004 – 2024): Bát bạch trực vận, hướng thủ Ly ra Tam bích.
  • Trung vận 9 (kể từ năm 2024 – 2044): Cửu tử trực vận, hướng thủ Ly ra Tứ lục. Đều là mộc sinh hoả thành Sinh khí nên trong hai trung vận tới này đất nước ta sẽ bước sang một trang sử mới với đà phát triển kinh tế đi lên từng bước vững chắc.

Hà Nội là thủ đô, là trái tim của cả nước, nên lấy Hà Nội để luận sự hưng suy của vận nước.

(Trích dẫn từ một Đại sư phong thủy)

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *