BÁT TỰ TRỌN ĐỜI

Giá trị lớn nhất của dự đoán theo Bát tự là biết được vận thời một năm, mười năm (1 Đại vận), các Đại vận thuận lợi hay khó khăn trong cuộc đời và kích hoạt những phương diện có lợi theo dụng thần để bổ mệnh. Khi biết trước những xu thế, ta mới có những hành động thích hợp để cải mệnh. Chúng tôi xin minh chứng 1 lá số với những sự kiện lớn trong đời để bạn đọc tham khảo.

Khôn tạo

(22/9/1955 Dương lịch)

Thương Nhật Ấn Ấn

Kỷ

Sửu

Bính

Tuất

Ất

Dậu

Ất

Mùi

Đại vận Bính

Tuất

Đinh

Hợi

Mậu

Kỷ

Sửu

Tuổi 6 16 26

36

Lá số kỵ thổ. Bát tự xuất hiện tam hình thổ Sửu Mùi Tuất là xấu, chủ về tật bệnh kéo dài, dễ bị ung thư và tai nạn.

Trụ giờ Kỷ sửu thuộc vòng tuần thủ Giáp thân, tuần Giáp thân không vong tại Ngọ Mùi. Trong Bát tự có Mùi nên Thương quan Kỷ lạc Không vong. Thương quan không vong chủ về hôn nhân dễ gặp trở ngại, gãy đổ, khẩu thiệt, sau khi cưới khó được cha mẹ chồng yêu thương, hoặc bất lợi về đường con cái như tổn hại con, bất hòa với con, dễ khuyết thiếu con trai.

Lá số này lấy thổ làm con, trong đó Mậu là con trai và Kỷ, Sửu, Mùi là con gái. Bát tự sinh nhiều gái hơn trai. Thực tế, mệnh chủ có hai con gái. Thổ là sao con mà lại xuất hiện thổ hình nên các con dễ bị tật bẩm sinh và bất hiếu.

Ất là Chính Ấn, Ấn đại diện cho mẹ. Ất bị chi tháng Dậu kim khắc và không có thủy trong Bát tự sinh cho nên sao Ấn yếu, chủ về khắc mẹ. Ất mộ tại Tuất, gặp Đại vận Bính tuất là bất lợi cho mẹ. Khi đến năm Canh tuất trong Đại vận Bính tuất là Ấn nhập mộ tại Lưu niên và Đại vận, lại bị Canh hợp mất nên năm 1970 mẹ gặp đại hung. Thực tế, mẹ mất vào năm này.

Tài là cha, nằm tại chi Dậu trong trụ tháng. Bát tự nhiều thổ nhưng Tuất, Mùi là táo thổ nên không sinh trợ cho Dậu kim. Dậu kim bị cô lập, nên rất sợ Đinh vận. Kim mộ tại Sửu nên năm Sửu cũng bất lợi cho cha. Trong Đại vận Đinh hợi và Lưu niên Quý sửu (1973) thì cha cũng gặp vấn đề xấu. Thực tế, cha mất vào năm này.

Năm 1973 (Quý sửu), có Quan tinh xuất hiện và trụ giờ (cung con cái) động nên dễ kết hôn và mang thai năm này. Thực tế, mệnh chủ kết hôn và đậu thai trong năm đó.

Lá số kỵ thổ nên vào vận Kỷ sửu sẽ gặp đại hung. Đại vận Kỷ sửu toàn thổ nên hành Thủy ứng với Quan tinh sẽ bị khắc mất. Đại vận Kỷ sửu Phục ngâm với trụ giờ Kỷ sửu nên con cái bị bất lợi hoặc bất hòa, xa cách con cái.

  • Năm 1992 (Nhâm thân) đều là kỵ thần nên dễ bị bệnh, hao tài. Thực tế, mệnh chủ bị bệnh thận vào năm này.
  • Mệnh chủ không được hạnh phúc trong hôn nhân và không sinh được con trai nên nguyên nhân rạn nứt đã rõ, gặp Lưu niên xấu trong Đại vận xấu cũng có thể xảy ra mâu thuẫn. Năm 1994 (Giáp tuất), có Tuất động cung phu nên vợ chồng có vấn đề. Thực tế, vợ chồng ly hôn năm này và hai con gái theo bố.
  • Lá số kỵ thổ nên gặp những năm kích hoạt thổ hình là nguy hiểm. Cuối cùng, đến tháng 12 (tháng Sửu) năm 1997 (Đinh sửu) thì mệnh chủ đã mất.

Người tin mệnh đã ít, người cải mệnh còn ít hơn. Cải mệnh triệt đề cần theo Phật gia, không làm phước thì khó thoát khỏi sự chi phối của âm dương ngũ hành. Người biết Phật pháp mà không dốc lòng tu tập cải mệnh thì thật tiếc lắm thay.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *