VIỆT DANH

Cổ nhân có câu: “ Danh chính, ngôn thuận”. Nếu danh bất chính thì ngôn bất thuận, ngôn bất thuận thì danh lợi đều khó đạt. Tên gọi có giá trị riêng của nó. Thời nhà Tống có Tạ Thạch nổi tiếng về đoán cát hung của Họ Tên. Có thuyết cho rằng, Quỷ Cốc Tử tiên sinh đã đổi tên cho Tôn Tẫn trước khi xuống núi lập công danh, nếu không đổi sẽ ảnh hưởng tới tính mạng.

Cải vận theo thuyết âm dương ngũ hành thì những cái lớn là Phong thuỷ Nhà cửa, Sinh phần, Mộ phần. Cải vận cho mỗi cá nhân thì dễ hơn, như cải vận theo Dụng thần Bát tự, chọn Sim số và đặt Tên. Tên gọi tuy quan trọng nhưng để đặt được một cái tên đúng là điều không dễ dàng.

Các phương pháp đặt Tên thường là đặt theo chữ Tượng hình và theo Việt danh. Chữ Tượng hình là chữ Thần truyền dạy cho con người, đằng sau mỗi chữ là một bài học triết lý nhân sinh sâu sắc. Có hai cách đặt tên theo chữ Tượng Hình là phương pháp Ngũ cách và Tam cách. Phương pháp Ngũ cách là tìm ra số nét tốt phù hợp với cách cục và Dụng thần Bát tự. Phương pháp này vẫn còn thiếu sót và chưa hoàn hảo. Phương pháp tính theo Tam cách chỉ ra những cái Tên cần tránh chọn cho Tuổi, như người tuổi Tý không nên chọn tên Tuấn hoặc hợp tác với người tên Tuấn vì Tuấn là hoả xung với Tý. Đặt tên theo chữ Tượng hình là do ảnh hưởng lớn của văn hoá Trung Hoa. Tiếng Việt cũng có quy luật riêng của nó, đặt tên theo Việt danh học chú trọng Tĩnh cục, Động cục và Mệnh cục. Các dấu cũng có ngũ hành riêng của nó như dấu Sắc là kim, dấu Huyền là mộc.

Cái tên cũng cần được Quẻ dịch tốt. Từ một Họ Tên có thể lập ra các quẻ dịch ảnh hưởng tới mệnh chủ theo từng độ tuổi như yếu tố Đại vận trong môn Bát tự.

Chúng tôi dùng phương pháp Tam cách và Quẻ dịch để đặt tên, bút danh trong quá trình tư vấn. Dù không biết Dụng thần Bát tự thì phương pháp này vẫn chọn được Tên gọi hợp Tuổi. Tên không hợp Dụng thần là không lấy được hết cái tốt mà thôi. Tên gọi một cá nhân đã quan trọng, tên gọi cho một tập thể càng quan trọng hơn. Chúng tôi xin dẫn chứng về việc đổi chữ biển chùa Tây Lâm của Thiệu Khang Tiết để bạn đọc tham khảo.

Có lần, Thiệu Khang Tiết nhìn thấy chữ “lâm” trên tấm biển chùa Tây Lâm thiếu hai cái móc. Vì việc đó, ông đã bốc quẻ. Chữ Tây có 7 nét ứng với quẻ Cấn làm quẻ Thượng, lấy 8 nét của chữ “lâm” làm quẻ Hạ, được quẻ Sơn Địa Bác động hào 3 biến thành Thuần Cấn. Hỗ quái là Thuần Khôn. Đoán quẻ nói rằng: “ Chùa là nơi để cho các nhà sư thuộc về thuần dương ở, mà gặp toàn quẻ âm là tượng quần âm tước đoạt dương. Hoạ ốm đau, bệnh tật thuốc thang không khỏi là vì đây”. Liền nói với Hoà thượng trong chùa rằng “tại sao không thêm hai cái móc vào chữ “lâm” thành 10 nét, sẽ trở thành quẻ tốt và thoát tai hoạ người âm”. Các nhà sư cho là phải, bèn thêm hai cái móc tròn vào chữ “lâm”. Từ đó trong chùa bình an vô sự.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *